Menu Đóng

Bạn biết gì về 5 loại rối loạn lo âu mà chúng ta thường dễ gặp phải?

bạn biết gì về 5 loại rồi loạn lo âu mà chúng ta thường dễ gặp phải

1. Rối loạn lo âu là gì ?

Rối loạn lo âu (Anxiety Disorder) là sự lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéo dài, gây ảnh hưởng tới sự thích nghi cuộc sống. Khi lo âu và sợ hãi quá mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, vẫn tiếp tục ngay cả khi mối lo thực tế đã kết thúc thì đó là bệnh lý.

2. Rối loạn lo âu xảy ra do đâu ?

Rối loạn lo âu xảy ra do những nguyên nhân chính sau đây:

  • Lạm dụng thuốc, chất kích thích, rượu, cà phê, thuốc lá
  • Tác dụng phụ của bệnh nội tiết như pheochromocytoma hoặc cường giáp.
  • Những căng thẳng, stress trong cuộc sống (tài chính, bệnh mãn tính).
  • Những căng thẳng trong sự tương tác xã hội, đánh giá và hình ảnh cơ thể.
  • Di truyền hoặc đã từng bị chấn thương.

Ngoài ra, rối loạn lo âu còn xảy ra do những tổn thương sâu sắc về tâm lý trong quá khứ như mất đi người thân yêu, bị bạo hành hay lam dụng tình dục.

3. Có những loại rối loạn lo âu nào thường gặp

3.1. Rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized Anxiety Disorder)

Rối loạn lo âu lan tỏa thường bắt đầu từ 20-30 tuổi, tỷ lệ mắc phải ở nữ cao hơn nam.

Đặc điểm: Sự lo âu la tỏa, dai dẳng và không giới hạn hay nổi bật trong bất kỳ tình huống, đối tượng đặc biệt nào.

Biểu hiện:

  • Tâm trạng luôn bất an, hồi hộp
  • Thể chất hay run rẩy, căng cứng bắp thịt, vã mồ hôi, thắt ngực, nóng lưng, đau bụng, khó ngủ
  • Tiêu chuẩn chuẩn đoán: lo âu quá mức hàng ngày, trong thời gian ít nhất 6 tháng

Hậu quả: Nếu lo lắng ở mức độ nghiêm trọng người bệnh sẽ gặp khó khăn, thậm chí trong việc thực hiện các hoạt động đơn giản hằng ngày.

bạn biết gì về 5 loại rối loạn lo âu mà chúng ta thường dễ gặp phải

3.2. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive Compulsive Disorder)

Theo ước tính, nước Mỹ có khoảng 2% người mắc phải rối loạn ám ảnh cưỡng chế, tỷ lệ nam nữ mắc phải như nhau.

Đặc điểm:

  • Các ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế.
  • Người bệnh không làm chủ được các ý nghĩ, lặp đi lặp lại một cách vô lý.
  • Để giảm độ thôi thúc gây khó chịu cho bản thân họ buộc phải thực hiện hành vi cưỡng chế (VD: rửa tay liên tục, sưu tầm vật vô giá trị, ngăn nắp quá mức, tìm kiếm sự cân đối)
  • Nhiều người ý thức được nhưng không khống chế được.

Biểu hiện:

  • Có những ý nghĩ và hành vi lặp lại một cách vô nghĩa mà không kiểm soát được chẳng hạn rửa tay hàng chục lần dù tay đã sạch hay dành quá nhiều thời gian để sắp xếp đồ vật trong nhà quá mức gọn gàng cần thiết.
  • Tuy nhiên, không phải mọi hành vi có tính chất ám ảnh cưỡng chế đều bị coi là dấu hiệu của bệnh như phải nghe kể chuyện mới có thể đi ngủ ở trẻ hay các nghi lễ tôn giáo vì chúng có ích và không gây phiền toái.
  • Những lo lắng sẽ là bệnh nếu như nó quá mức độ cần thiết và gây đau khổ.

Hậu quả: Mức độ của bệnh có thể từ nhẹ đến nặng, nhưng nếu bị nặng mà không được điều trị sẽ làm thoái hóa khả năng làm việc, học tập, thậm chí làm người bệnh không thoải mái ngay trong chính căn nhà của mình. Họ có thể mất vài giờ chỉ để thực hiện các hành vi ám ảnh cưỡng chế.

3.3. Rối loạn stress sau sang chấn (Post Traumatic Stress Disorder)

Tên gọi PTSD chính thức ra đời sau khi người ta nhận thấy rằng rất nhiều cựu binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam sau khi trở về dù có cuộc sống bình thường nhưng lại có những biểu hiện tâm lý bất thường.

Đặc điểm: Rối loạn stress sau sang chấn xuất hiện sau trải nghiệm đau buồn như người thân mất, bị ngược đãi, chiến tranh, thiên tai. Nỗi bất an dai dẳng, cảm giác đau buồn không nguôi.

Biểu hiện:

  • Người bệnh hay nhớ lại hoàn cảnh sang chấn ngoài ý muốn hoặc nó có thể đến trong cơn ác mộng.
  • Những người có tuổi thơ bất hạnh, bị lạm dụng tình dục, chứng kiến cái chết thảm khốc của người mà mình yêu thương có khả năng mắc bệnh này.

Hậu quả: Một người bị PTSD có nguy cơ tự tử và cố ý làm hại bản thân cao hơn.

3.4. Rối loạn ám ảnh xã hội (Social Anxiety Disorder)

Rối loạn ám ảnh xã hội khởi phát trong thời kỳ thơ ấu hoặc đầu trưởng thành, hiếm khi bị bệnh sau tuổi 25.

Đặc điểm: Một số tình huống xã hội mà người bệnh thường né tránh nhất đó là:

  • Nói chuyện trước đám đông
  • Làm việc khi ai đó đang nhìn mình
  • Nói chuyện trên điện thoại
  • Gặp người lạ
  • Hẹn hò
  • Ăn ở nơi công cộng
  • Trả lời câu hỏi trong lớp học

Biểu hiện:

  • Người bệnh luôn cảm thấy sợ hãi quá mức trong các tình huống mang tính xã hội như trong các buổi tiệc, nói chuyện trước đám đông, hay thậm chí chỉ là nói chuyện với người khác hoặc bị một ai đó nhìn.
  • Có các biểu hiện như run rẩy, buồn nôn…
  • Khi hành động thì luôn sợ hãi rằng mình sẽ làm các hành vi ngớ ngẩn để rồi phải xấu hổ.

Hậu quả: Nếu không được chữa trị sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Người bệnh có xu hướng khép mình lại, không chịu giao tiếp với ai, dần xa rời xã hội và văn minh nhân loại.

3.5. Rối loạn lo âu ly thân (Separation Anxiety Disorder)

Rối loạn lo âu ly thân có xuất hiện ở người trưởng thành nhưng đối tượng chủ yếu là trẻ em.

Đặc điểm: Cần nhớ rằng lo âu khi xa cách là một giai đoạn trong quá trình phát triển tự nhiên của trẻ (rất dễ quan sát ở trẻ sơ sinh, chúng có thể khóc ngay khi đến nhà người lạ) do vậy chẩn đoán mắc bệnh chỉ có ý nghĩa với các biểu hiện vượt mức cần thiết.

Biểu hiện:

  • Sự lo âu thái quá khi phải xa cách môi trường hoặc người đem lại cảm giác an toàn.
  • Biểu hiện ở tình trạng trẻ luôn bám lấy bố mẹ mọi lúc mọi nơi, sợ người lạ và địa điểm lạ.
  • Khi ngủ thường mơ thấy ác mộng, khó kết bạn, hay làm những hành động như đi tiểu nhiều lần, đóng mở cửa vì lo lắng thái quá.

Hậu quả: Trẻ mắc hội chứng này dễ bị căng thẳng và gây cản trở tới hoạt động bình thường như đi học, đi chơi với bạn bè.

Chúng ta cần nhận biết tình trạng rối loạn kịp thời để có các biện pháp trị liệu đúng đắn, tránh cho tình trạng ngày càng trở nên tồi tệ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của chính chúng ta và những người xung quanh.

Xem thêm: Biểu hiện bệnh trầm cảm

Đặt lịch miễn phí