Menu Đóng

Một số thắc mắc về kế toán – thuế trong tháng 5/2016

Một số thắc mắc về kế toán – thuế trong tháng 5/2016

1. Theo quy định tại TT số 92/2015/TT – BTC ngày 15/6/2015 thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là:

– Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng nếu thời điểm lập hoá đơn trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá.

– Đối với hoạt động vận tải, cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ nếu thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ trước thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ.

– Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành.

Tuy nhiên, theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn 5 điều kiện và doanh thu cung cấp dịch vụ phải thỏa mãn 4 điều kiện.

Như vậy, khi xác định thuế GTGT doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định nào? vì trong thực tế có trường hợp giao dịch phát sinh phù hợp với chính sách thuế nhưng lại không phù hợp với chính sách kế toán. 

Trả lời: Theo quy định hiện hành thì việc ghi nhận doanh thu trên sổ kế toán phải tuân thủ theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập khác. Khi xác định thuế GTGT phải nộp phải căn cứ vào quy định của các chính sách thuế có liên quan.

Ví dụ: Doanh nghiệp ký hợp đồng cung cấp dịch vụ với khách hàng, khách hàng đồng ý tạm ứng cho 30% giá trị hợp đồng, nhưng yêu cầu phải xuất hóa đơn và DN đã xuất hóa đơn và thu tiền nhưng chưa cung cấp dịch vụ.

Trường hợp này, số tiền nhận tạm ứng của khách hàng DN ghi nhận vào tài khoản khách hàng trả trước (ghi Có TK 131) và vẫn phải kê khai thuế GTGT tương ứng với giá trị hóa đơn và thuế suất phù hợp. Trường hợp này DN chỉ ghi nhận DT khi thực sự cung cấp dịch vụ được khách hàng nghiệm thu chấp nhận.

2. Theo Điều 39 Luật Kế toán 2015, kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.

Như vậy, việc kiểm soát nội bộ này có phải bắt buộc được thực hiện trong Doanh nghiệp hay không?

Khoản 2, điều 39 Luật Kế toán 2015 quy định :

“Đơn vị kế toán phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị để đảm bảo các yêu cầu sau đây :

  1. a) Tài sản của đơn vị được đảm bảo an toàn, tránh sử dụng sai mục đích, không hiệu quả;
  2. b) Các nghiệp vụ được phê duyệt đúng thẩm quyền và được ghi chép đầy đủ làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính tring thực, hợp lý.”
    Như vậy, Luật kế toán quy định đơn vị kế toán phải thiết lập Hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, nội dung cụ thể về Hệ thống kiểm soát nội bộ quy định như thế nào chị phải chờ hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện Luật kế toán trong thời gian tới.
    Chúng tôi xin bật mí, Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm các yếu tố:
    + Môi trường kiểm soát;
    + Đánh giá rủi ro;
    + Hoạt động kiểm soát;
    + Thông tin và truyền thông;
    + Giám sát.
    Vậy thì, chắc chắn là hiện nay trong đơn vị chị đang công tác đã tồn tại các nội dung của Hệ thống kiểm soát nội bộ, vấn đề đặt ra là hệ thống đó đã đầy đủ hay chưa và có phát huy hiệu quả hay không mà thôi.

[Xem thêm]: Hồ sơ khai thuế bao gồm những gì?

3. Theo khoản 1 Điều 59 Luật Kế toán 2015, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán được thành lập theo các loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. 

Vậy tại sao công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần lại không được phép kinh doanh dịch vụ kế toán?

Và tại sao doanh nghiệp tư nhân lại được kinh doanh dịch vụ kế toán?

Tại sao công ty TNHH MTV, công ty cổ phần không được phép kinh doanh dịch vụ kế toán và doanh nghiệp tư nhân lại được phép kinh doanh dịch vụ kế toán :

– Theo thông lệ quốc tế, không có loại hình doanh nghiệp kế toán là công ty cổ phần.
Công ty cổ phần không giới hạn cổ đông là người không có chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán nên không đảm bảo yêu cầu về sở hữu phải thuộc về người có chứng chỉ hành nghề kế toán để đảm bảo chất lượng dịch vụ.

– Luật kế toán hiện hành vẫn cho phép công ty TNHH MTV được phép kinh doanh dịch
vụ kế toán, tuy nhiên Luật Kế toán 2015 chỉ cho phép công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên được phép kinh doanh ngành nghề này.

Theo quy định tại Luật DN 2014 thì “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”. Như vậy, sẽ không thỏa mãn quy định tại điều 60 – Điều kiện cấp Giấy đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, đó là “Có ít nhất 2 thành viên góp vốn là 2 kế toán viên hành nghề” đối với công ty TNHH 2 TV.

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể suy luận về vấn đề trách nhiệm đền bù rủi ro, công ty TNHH một thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty, mà số vốn điều lệ của các loại công ty này thường không lớn, do đó nếu có rủi ro xảy ra sẽ khó có khả năng đền bù thiệt hại cho khách hàng và nền kinh tế nói chung. Các nước phát triển để có khả năng đền bù, luật pháp quy định bắt buộc phải mua bảo hiểm nghề nghiệp, nhưng ở Việt Nam tại thời điểm này chưa có loại hình BH này nên càng khó khăn hơn.

4. Theo khoản 4 Điều 59 Luật Kế toán 2015, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài thực hiện kinh doanh dịch vụ kế toán dưới hình thức góp vốn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán. Tôi có xem bản cam kết dịch vụ giữ WTO và Việt Nam nhưng không quy định tỷ lệ vốn góp là bao nhiêu.

Vậy doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài góp vốn bao nhiêu % vào doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam?

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán nước ngoài khi góp vốn với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam để thành lập doanh nghiệp dịch vụ kế toán. Khi thành lập doanh nghiệp dịch vụ kế toán này sẽ chỉ được thành lập doanh nghiệp dưới dạng công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên.

Theo quy định tại điểm d, khoản 1, điều 60 Luật Kế toán 2015 quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán của công ty TNHH 2 thành viên trở lên thì phải “đảm bảo tỷ lệ góp vốn của kế toán viên hành nghề trong doanh nghiệp, tỷ lệ góp vốn của các thành viên là tổ chức theo quy định của Chính phủ”

Nguồn theo Vaa.net

Giải đáp vướng mắc của Doanh nghiệp tại đây: Hệ thống tư vấn trực tuyến Actax